Thông Tin

Điều Mới Lạ

Visitors Counter

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterToday58
mod_vvisit_counterYesterday104
mod_vvisit_counterThis week58
mod_vvisit_counterLast week400
mod_vvisit_counterThis month293
mod_vvisit_counterLast month2118
mod_vvisit_counterAll days17681

Online Now: 8
Your IP: 38.107.191.94
,
Today: Tháng 9 05, 2010
Quân đội nhân dân việt nam sủ dụng các loại tank, thiết giáp nào ?? PDF. In Email
Viết bởi Administrator   
Chủ nhật, 08 Tháng 11 2009 11:17

Địa hình nước ta từ Nam chí Bắc phần lớn là rừng núi chiếm hơn 3/4 diện tích , xét về mặt địa thế hoàn toàn ko...

 

 

...thích hợp với kiểu chiến tranh quy ước và đặc biệt là gây khó khăn cho việc tác chiến bằng tăng thiết giáp . Qua kinh nghiệm của 2 cuộc chiến tranh giữ nước cho thấy địa hình của Việt Nam với kiểu núi rừng đan xen đồng bằng ko thích hợp cho việc tác chiến xe tăng với số lượng lớn , đặc biệt là ko thích hợp cho các loại tăng lớn, nặng nề. Tiêu biểu là trong các chiến dịch Tìm diệt của quân đội Mỹ vào chiến khu Dương Minh Châu năm 1967, cuộc hành quân Juinction City, quân đội Mỹ đã huy động 1 lượng lớn tăng thiết giáp , trong đó chủ yếu là tăng M41 và tăng M48, kèm theo 1 số lượng lớn xe bọc thép M113 để tấn công nhằm tiêu diệt căn cứ quân chủ lực MTDTGP Miền Nam . Cuộc hành quân đã thất bại và quân đội Mỹ đã bị thiệt hại nặng về tăng thiết giáp (hơn 48 xe tăng và xe bọc thép bị bắn cháy chỉ bằng các loại vũ khí chống tăng cá nhân như B40, mìn chống tăng..).Chiến thuật đánh xe tăng ồ ạt kiểu thời thế chiến thứ 2 bị hoàn toàn phá sản ở miền rừng núi Tây Ninh.
XE TĂNG LỘI NƯỚC PT-76

Quân đội Nhân Dân Việt Nam đã biết dựa vào nguyên tắc: Chọn vũ khí phù hợp với địa hình , phát huy lợi thế chiến đấu của tăng thiết giáp trên 1 địa hình hoàn tòan ko phù hợp cho xe tăng để giáng trả những cú đấm thép vào quân thù. Phải nói rằng người bạn Liên Xô có công rất lớn trong việc cung cấp đúng loại vũ khí phù hợp với địa hình phức tạp của Việt Nam, các loại tăng thiết giáp mà QDNDVN được cung cấp đều có tính cơ động cao, trọng lượng nhẹ (nặng nhất chỉ có T54 là 36 tấn) chiến đấu rất hiệu quả trên địa hình rừng núi. Binh chủng tăng thiết giáp đã đóng 1 vai trò vô cùng to lớn trong các chiến thắng của Quân đội NDVN trong cuộc kháng chiến chống Mỹ: lần đầu tiên tăng thiết giáp được sử dụng trong trận Làng Vây ở Khe Sanh, tiếp đó tăng thiết giáp đã làm nên 1 loạt các chiến công vang dội ở Đường 9 Nam Lào, Đắc Tô-Tân Cảnh, Quảng Trị và góp phần hết sức to lớn cho thắng lợi của Chiến dịch Hồ CHí Minh lịch sử, hình ảnh chiếc xe tăng T54 húc đổ cổng dinh Độc Lập ngày 30/4/1975 luôn là hình ảnh đáng tự hào của các chiến sĩ Tăng Thiết giáp QDNDVN.


Thông số kỹ thuật

Loại: Xe tăng lội nước hạng nhẹ

Nước Sản xuất:Liên Xô

Nặng: 14 tấn với PT-76

15,4 tấn với PT-76B

Chiều dài(ko tính súng chính): 6,91m

Cao: 2,26 m

Rộng: 3,15m

Tổ lái: 3 người

Giáp trước : dày nhất 14mm

Giáp tháp pháo:dày nhất 20mm, mỏng nhất 17mm

Vũ khí: SÚng chính 76mm D-56T 40 viên

1 súng máy đồng trục 7,62mm loại SGMT hoặc PKT

Động cơ: V-6B Diesel 240 mã lực

Tầm hoạt động:260 km trên cạn và 60 km dưới nước

Tốc độ: 44 km/h trên cạn và 10,2 km/h dưới nước


PT-76 [PT = Plavayushtshiy Tank - Amphibious Tank) là loại xe tăng lội nước hạng nhẹ được chế tạo và sử dụng bởi quân đội Liên Xô, mẫu PT-76 được phát triển vào khoảng những năm 1949-1951 dưới sự chỉ đạo của Z.Y. Kotin. PT-76 được đưa vào phục vụ từ năm 1954 với khả năng lội nước mà ko cần phải thực hiện các thao tác chuẩn bị như các loại tăng khác( T34,T54) . Mặc dù PT-76 có giáp mỏng và được vũ trang ko đủ tiêu chuẩn như 1 xe tăng hiện đại như khả năng lội nước của nó lại bù đắp giá trị của những hạn chế này. Nó được sử dụng rất rộng rãi trong quân đội các nước thuộc Liên Bang Soviet , các nước thuộc Khối hiệp ước Warsaw và một số quốc gia đồng minh khác của LX.Đã có hơn 7000 xe tăng PT-76 được sản xuất và hơn 2000 chiếc xuất khẩu, có hơn 25 quốc gia sử dụng. PT-76 vũ trang súng chính 76mm với tầm bắn hiệu quả tối đa độ chừng 1500m. Tổ lái gồm 3 người , PT-76 cũng được dùng để vận chuyển bộ binh. PT-76 là loại xe tăng lội nước hạng nhẹ nên thiết kế mũi xe tăng dẹt,phẳng , có hình dáng như mũi tàu .Xích xe có 6 bánh chạy và ko có trục lăn đỡ xích. Tháp pháo hình chóp cụt ,nằm trên vị trí bánh thứ 2,3,4 có 2 cửa dành cho Xa trưởng và Lính nạp đạn, cửa dành cho Lái xe đặt ngay dưới súng chính .

 



PT-76 được sử dụng như xe tăng trinh sát tiêu chuẩn của quân đội Nga và quân đội Khối hiệp ước Warsaw .Mặc dù sau này nó đã được thay thế ở các đơn vị chủ lực tuyến đầu bời các loại Xe chiến đấu khác như BMP-1, BMP M1976 nhưng nó vẫn được sử dụng ở 1 số đơn vị trinh sát, bộ binh hạng nhẹ,và các đơn vị đổ bộ đường biển. Bên cạnh vai trò trinh sát, nó còn được sử dụng đề vượt qua các chướng ngại vật do đối phương dựng nên trên mặt nước trong đợt tấn công đầu tiên của các cuộc đổ bộ đánh chiếm bãi biển.Động cơ V-6 240 mã lực làm mát bằng nước của PT-76 tạo cho nó tốc độ 44km/h khi tuần tra với quãng đường khoảng 260km, hệ thống đẩy thủy lực của nó giúp nó rẽ nước với tốc độ 10km/h trên mặt biển với quãng đường 100km.Súng chính 76mm, bắn đạn HVAP HEAT, đủ sức chống lại các phương tiện cơ giới bọc thép hạng nhẹ , APC( xe bọc thép).PT-76 là 1 phương tiện cơ giới trinh sát đáng tin cậy, cơ động cao và là 1 phương tiện cơ giới lội nước hiệu quả nhưng có nhiều hạn chế nếu xét trên phương diện 1 phương tiện cơ giới chiến đấu.



Tượng đài chiến thắng Làng Vây, Khe Sanh, Quảng Trị

Trong chiến tranh Việt Nam, PT-76 được Quân đội Nhân dân Việt Nam sử dụng lần đầu tiên ở trận Làng Vây, Khe Sanh, dùng để bao vây tiêu diệt căn cứ của Lực lượng Đặc biệt Mỹ (SOG) được đồn trú bởi chủ yếu là người Thượng và 24 lính Mỹ. Trong trận Làng Vây, PT-76 đã làm tốt vai trò tấn công thọc sâu, yểm trợ bộ binh xung phong , làm giảm thiểu thương vong đáng kể cho bộ binh , gây thiệt hại nặng cho phe phòng thủ (trên 200 Lính đặc nhiệm người Thượng bị tiêu diệt, 7 lính Mỹ chết), tuy nhiên phe QđND VN cũng chịu thiệt hại nặng là 5 trong số 12 xe bị phá hủy bởi súng không giật DKZ và súng chống tăng M72 LAW nhưng cuộc tấn công đã giành thắng lợi, tiêu diệt được cứ điểm Làng Vây. Sau đó PT-76 được QĐ ND VN sử dụng rộng rãi suốt cuộc chiến tranh trong các trận đánh hiệp đồng binh chủng, PT-76 chỉ tham gia 1 trận đấu tăng duy nhất tại Bến Hét ngày 3/3 /1969 gần biên giới Lào, trong trận đánh 2 xe tăng PT-76 đã bị bắn cháy bởi 1 xe tăng hạng trung M48A3 của Quân đội Mỹ. Sau này PT-6 được phiên chế vào Qđ NDVN thời nay , trang bị cho các đơn vị thiết giáp , bộ binh cơ giới và Lực lượng Hải quân đánh bộ.

XE TĂNG LỘI NƯỚC TYPE 63

 THÔNG SỐ KỸ THUẬT
Loại:Xe tăng lội nước hạng nhẹ
Nước sản xuất: Trung Quốc
Nặng:18.4 tấn
Dài 7.288 m
Bề ngang: 3.2 m
Cao: 2.522 m
Tổ lái:4 người
Vũ khí: Súng chính 85mm( 105mm với Type 63A)
1 đại liên đồng trục 7,62mm
1 đại liên 12,7mm gắn trên đỉnh tháp pháo
Động cơ:12150L2 diesel
400 mã lực
Tầm hoạt động: 370km
Vận tốc: 64km/h trên cạn
12km/h dưới nước






Xe tăng lội nước Type 63 là loại xe tăng lội nước hạng nhẹ được Trung Quốc chế tạo dưạ theo y nguyên bản PT-76 cuả Liên Xô, chỉ khác là Type 63 được gắn tháp pháo cuả Type 62 hình vòm, có 1 lỗ thông hơi được gắn ống thở . Súng chính được thay thế bằng pháp 85mm có thể bắn đạn AP, APHE, HE, và HEAT thay cho loại 76mm cuả PT-76, Type 63 còn được trang bị thêm 1 đại liên 12,7mm trên đỉnh tháp pháo.Tổ lái nâng lên 4 người và động cơ 12150L2 Diesel 400 mã lực cuả nó nâng tốc độ tối đa trên cạn lên tới 64km/h.Type 63 được TQ cung cấp cho Quân đội NDVN trong kháng chiến chống Mỹ, có tham gia các trận đánh kèm với PT-76, hiện nay được sử dụng trong 1 số đơn vị tăng thiết giáp và Hải quân đánh bộ. Type 63 vẫn còn được Quân đội Trung QUốc sử dụng trong các đơn vị Thuỷ quân lục chiến nhưng với phiên bản Type 63A.

XE TĂNG HẠNG NHẸ TYPE-62

Thông số kỹ thuật

Loại: Xe tăng hạng nhẹ

Nước SX: Trung Quốc

Nặng: 21 tấn

Dài: 5.6 m

Rộng: 2.9 m

Cao: 2.3 m

Động cơ: Diesel làm mát bằng nước 430 mã lực

Tổ lái: 4 người

Giáp trước 25 mm, Tháp pháo 50mm

Vũ khí: Súng chính 85mm

1 đại liên 12,7mm

2 đại liên 7,62mm

Tầm hoạt động:500km

Tốc độ: 60km/h






Xe tăng Type-62 là phiên bản thu nhỏ cuả xe tăng hạng trung Type-59 được sản xuất để đáp ứng nhu cầu chiến đấu ở vùng điạ hình miền Nam Trung Quốc vốn nhiều rừng núi và sông hồ, được đưa vào phục vụ Qđ năm 1963. Được thiết kế quy ước tương tự như Type-59 nhưng có giáp mỏng hơn, xích và bánh xe nhỏ hơn, động cơ vẫn là động cơ Diesel làm mát bằng nước như Type-59 nhưng được hạn chế công suất xuống còn 430 mã lực để giảm trọng lượng xe.Type-62 trang bị súng chính 85mm(nhỏ hơn so với Type-59 là 100mm) loại Type 62-85TC có thể bắn được các loại đạn AP, APHE, HE,và HEAT nhưng ko được trang bị hệ thống ổn định súng khi bắn, thiết bị ngắm đơn giản, thiếu thiết bị quan sát ban đêm.
Giáp cuả Type-62 mỏng nên rất dễ bị tổn thương trước các loại vũ khí chống tăng cá nhân. Điều này đã thể hiện rất rõ trong cuộc chiên tranh Việt Trung năm 1979, rất nhiều xe tăng Type-62 cuả TQ bị bắn hạ bởi các loại vũ khí chống tăng cuả Quân đội Nhân dân Việt Nam, sau bài học kinh nghiệm xương máu đó Trung Quốc mới nâng cấp Type-62 thành mẫu Type-62I, nâng cấp giáp bảo vệ, gắn thêm ERA và trang bị súng 105mm để tăng khả năng chiến đấu cuả xe.
 

Xe tăng Type-62 cuả Quân đội Nhân dân Việt Nam trong 1 cuộc duyệt binh ở Hà Nội

 XE TĂNG HẠNG TRUNG T54/55

 Xe tăng Type 59 do TQ chế tạo dưạ trên nguyên mẫu T54

Thông số kỹ thuật
Xuất xứ:Liên Xô.
Nước sản xuất:Liên Xô,Trung Quốc,một số nước XHCN khác
Thiết kế:Morozov Design Bureau
Số lượng sản xuất: 86000-100000
Nặng:36,7 tấn
Dài: 6,5m
Rộng:3,37m
Cao:2,4m
Tổ lái: 4 người(xa trưởng, xạ thủ, nạp đạn, lái xe)
Giáp: 203mm trước tháp pháo
150mm 2 bên hông tháp pháo
64mm mặt sau tháp pháo
39mm đỉnh tháp pháo
100mm giáp trước
79mm sườn xe
46mm đuôi xe
20mm gầm xe
Vũ khí: Súng chính 100mm D-10T , 34 viên-45 viên
1 đại liên 7,62mm đồng trục loại SGMT hoặc PKT
1 đại liên 7,62mm gắn trước thân xe
1 đại liên 12,7mm DKSh gắn trên đỉnh tháp pháo
Động cơ: V-54 Diesel 12 xi-lanh dung tích 38,88 lít làm mát bằng nước
523 mã lực(T54) 581 mã lực với T55
Sức kéo: 13,2 mã lực/tấn(T54)
14,6 mã lực/tấn(T55)
Tầm hoạt động: 401 km và 600km nếu có thêm thùng nhiên liệu phụ
Vận tốc: 48km/h với T54 và 55km/h với T55





Xe tăng T54

Xe tăng T55

Xe tăng hạng trung T-55 chạy bánh xích, chasis năm bánh với một khoảng không gian giữa bánh thứ nhất và bánh thứ hai và không có những trục lăn hồi chuyển. Nó có thân ngắn, tháp pháo hình vòm nằm bên trên bánh xe thứ ba. Súng chính có rãnh xoắn cỡ 100mm và có một lỗ thoát hiểm ở gần chân nòng. Một súng máy đồng trục A7.62mm và một súng máy 7.62mm di chuyển vòng cung. Các mẫu T-55A về sau này không được trang bị súng đó. T-55 được phân biệt với T-54 vì nó không có vòm ở bên phải và quạt thông gió của tháp pháo được lắp phía trước so với quạt thông gió của T-54, và tất cả các mẫu T-55 đều có một bộ phận tìm kiếm ánh sáng hồng ngoại dành cho pháo thủ lắp bên phải súng chính. Tuy nhiên, bộ phận tìm kiếm ánh sáng này không phải là một đặc điểm phân biệt, bởi vì nó cũng được trang bị thêm cho nhiều mẫu T-54 và T-54A.





Cách bố trí của T-54 theo kiểu xe tăng quy ước, với vũ khí chính gồm một khẩu súng có rãnh xoắn 100mm. T54 được sử dụng nhiều hơn bất kỳ một loại tăng nào khác từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai. T-55 gồm một khẩu súng tốc độ cao với nòng súng dài khác thường. T-55 có bánh xích, chasis năm bánh với một thân ngắn và tháp pháo hình tròn. Tăng T-54 xuất hiện lần đầu năm 1949 như loại thay thế cho chiếc T-34 thời thế chiến II. Nguyên mẫu T-54 đầu tiên được hoàn thành năm 1946 và được chế tạo lần đầu năm 1947. T-54 liên tục được sửa đổi và cải tiến, và sau khi đã được sửa khá nhiều, nó được đổi tên thành T-55. T-55 ra mắt vào năm 1958 và có đầy đủ mọi sự tinh xảo và cải tiến của serie T-54 mà không có khác biệt căn bản trong thiết kế và hay vẻ ngoài. T-55A xuất hiện đầu thập kỷ 1960. Sự sản xuất loại xe này tiếp tục đến tận năm 1981 ở Liên Xô và cũng được sản xuất ở Trung Quốc (kiểu 59), Tiệp Khắc và Ba Lan. Một số lượng lớn loại này vẫn còn được sử dụng, mặc dù đến thập kỷ 1980 T-54/55 đã bị thay thế bằng loại T-62, T-64 và T-80 trong vai trò loại tăng chủ yếu tại các đơn vị xe tăng và pháo tự hành của Liên Xô.

Xe tăng T54 của Quân đội NDVN húc đổ cổng DInh Độc Lập ngày 30/4/1975

T-54: Có nhiều khác biệt giữa xe T-54 thời kỳ đầu và thời kỳ sau, một số chiếc có giáp rộng hơn và tháp pháo bị cắt ngắn ở bên cạnh. Thỉnh thoảng chúng được coi là T-54 (1949), T-54 (1951) và T-54 (1953).T-54A: Kiểu này có máy hút khói cho súng 100mm, hệ thống ổn định và thiết bị lội sâu.T-54AK: Tăng chỉ huy (Kiểu của Ba Lan là T-54AD). Có thêm radio và tầm hoạt động của radio là 100 dặm.T-54M: T-54 được nâng cấp theo tiêu chuẩn của T55M.T-54B: Kiểu đầu tiên có thiết bị quan sát hồng ngoại ban đêm. Đây là kiểu được sử dụng ở những nước trên.T-55: T-54 với tháp pháo mới và nhiều cải tiến, các kiểu được chế tạo về sau này có một súng 12.7mm AA MG. Các cải tiến từ kiểu T-54 gồm một động cơ diesel làm mát bằng nước V12 lớn hơn và tầm hoạt động rộng hơn 500 thay vì 400km (600 với các xe tăng bổ trợ). Tầm hoạt động có thể tăng lên đến 715km với hai bình xăng phụ 200 lít ở hai bên xe. T-55 có tháp pháo hoàn toàn khác so với T-54, sự khác biệt dễ nhận thấy nhất là T-55 không có quạt gió nóc và thay vào đó là hai thanh nóc hình chữ D. Các xe T-55 đầu tiên cũng không có máy nạp đạn cho súng 12.7mm DShK AA MG cửa sập của máy nạp đạn hơi thò lên hay không thò lên khỏi xung quanh lớp giáp.T-55A được thêm hệ thống bảo vệ NBC. T-55A sử dụng một lớp chống bức xạ mới và hệ thống lọc hoá chất PAZ/FVU được cải tiến trên cùng tháp pháo. Lớp chống bức xạ làm tháp pháo dày hơn và không bằng với bề mặt tháp pháo.  
Xe tăng T55 của Ba Lan



T55AM2B

XE TĂNG HẠNG TRUNG T-62

THÔNG SỐ KỸ THUẬT
Tên:T-62M
Năm sản xuất:1983
Tổ lái: 4 người
Nặng 41,5 tấn
Dài 6.63m
Cao 2.4m
Rộng 3.52m
Động cơ: Diesel 620 sức ngựa
Tầm hoạt động :450/650km với thùng dầu phụ
Tốc độ: 50km/h trên đường nhưạ và 40km/h đường gồ ghề
Giáp:230 mm trước tháp pháo
153 mm sườn tháp pháo
97 mm sau tháp pháo
40 mm đỉnh tháp pháo
102 mm trước thân
79 mm sườn xe

46 mm đuôi xe
20 mm gầm xe
31 mm nóc xe
Pháo chính :115mm nòng trơn modle 2A20
Tốc độ bắn :3-5 viên/ phút
Nạp đạn: thủ công
Nòng dao động từ -5 tới 18 độ
1 đại liên 7,62mm đồng trục
1 đại liên 12,7mm trên đỉnh tháp pháo



T-62 là bước kế tiếp của series T-54/55, được đưa vào sản xuất hàng loạt năm 1961 và được duy trì cho tới năm 1975. Nó trở thành loại MBT (main battle tank) tiêu chuẩn của lực lượng Tăng thiết giáp và Bộ binh cơ giới LX, thay thế cho T-54/55. Phiên bản T-62 A lần đầu xuất hiện vào năm 1970. Vào khoảng thập niên 80 nó được thay thế bằng thế hệ tăng T-64/72/80 tiên tiến hơn.

 

Mô tả sơ bộ:

Tăng hạng trung T-62 là xe tăng bánh xích với 5 bánh dẫn động mỗi bên, 3 bánh đầu lắp sát nhau còn bánh thứ 3,thứ 4 và thứ 5 thì cách xa nhau khá rõ. Bách xích dẫn hướng nằm phía cuối còn bánh tĩnh thì nằm phía đầu xe. Xe T-62 không có bánh quay xích. Tháp pháo có hình tròn, được lắp ở khoảng trên bánh xích thứ 3, được đúc láng hơn và tròn hơn tiền bối T-54/55. Tháp chỉ huy nằm phía bên trái và được đúc liền vào thân chứ không táng ri-vê. Nắp cảu pháo thủ nằm bên phải

Súng nòng trơn 115-mm(bắn được ATGM) có nòng dài hơn và nhỏ hơn nòng pháo 100mm cuả T-54/55 (115 mà bé hơn 100 àh?) và cái bore evacuator ( một thiết bị có chức năng ngăn hơi thuốc bay ngược lại khoang lái, chảng biết dịch ra tiếng Việt là sao?) nằm ở khoảng 2/3 thân súng tính từ tháp pháo. Thêm vào đó là một khẩu súng máy đồng trục 7,62mm cùng 1 đại liên 12,7mm phòng không thuộc quyền sử dụng của pháo thủ.


Tính năng:

Giống như T-55, T-62 được trang bị động cơ diesel V-12 làm mát bằng nước có công suất 580 sức ngựa.Tầm hoạt động trên địa hình xấu là 320 km ,trên đường bằng phẳng là 450km với thùng nhiên liệu bên trong.Nếu đeo thêm 2 thùng nhiên liệu dung tích 200l thì 450km đường xấu và 650km đường bằng phẳng.hệ thống xả khí, phát khói ngụy trang

và máy quét phóng xạ loại PAZ dùng cùng loại với T-54/55.Một số T-62 còn có khả năng trang bọ thêm hệ thống chống chiến tranh sinh hóa NBC. Hầu hết các model T-62 đều có kính ngắm hồng ngoại cho xa trưởng, pháo thủ và lái xe.

 

Sự cải tiến đáng giá nhất của T-62 so với T-54/55 là khầu pháo chính 115mm nòng trơn. Khẩu này có khả năng bắn loại đạn xuyên giáp sử dụng thanh xuyên có cánh định hướng gắn cố định, sơ tốc đầu nòng cao vào khoảng 1,6 km/s. Loại đạn này có đạn đạo rất ổn định nên tầm hiệu quả tối đa vào khao3ng 1,6 km.1 cơ số đạn tiêu chuẩn của T-62 gồm 40 quả đạn, trong đó có 12 đạn HVAPFSDS xuyên giáp, 6 đạn nổ HEAT và 22 đạn nổ HE.T-62 còn có bộ phận hất vỏ đạn ra theo 1 đường rãnh thoát nằm cuối tháp pháo.

 


 Các thành phần gia cố khác bao gồm giáp đáy xe chống mìn, bánh xích bọc cao su và mũi giảm chấn đầu nòng.Thêm vào đó là những thiết bị ngắm thermal cho phép phóng ATGM vào ban đêm. Thiết bị quan trắc K13 vừa là thiết bị nhìn đêm vừa là ống ngắm ban đêm cho ATGM nhưng 2 chức năng này ko dùng song song được.


Hạn chế

T-62 cũng có những hạn chế giống T-55 : không gian chật hẹt của tổ lái, giáp mỏng, thiết bị điều khiển pháo thô lậu, góc hạ nòng súng thấp và khu vực chứa nhiên liệu đạn dược đễ bị tổn thương. Hệ thống tự động hất vỏ đạn cũng gây nên sự rò rỉ ngược khí CO2 và gây thương tổn vật lý khi vỏ đạn văng ra khỏi nòng cho thành viên tổ lái, thêm vào đó, lỗ hất vỏ đạn là một khe hở chết người của hệ thống NBC.

 

Mỗi khi bắn, khẩu pháo phải nằm đúng vị trí khe hất vỏ đạn, đồng thời tháp pháo cũng ko thể quay được khi đang thao tác nạp đạn. Việc quay tháp pháo bằng tay gây khó khăn rất nhiều cho việc tác xạ khi di chuyển và tốc độ bắn liên tiếp.Khi nắp ca-pô của tài xế mở ra, tháp pháo cũng ko thể quay được. Mặc dù xa trưởng có khả năng chiếm quyền của pháo thủ và quay tháp pháo nhưng anh ta ko thể bắn được pháo từ vị trí chỉ huy vì không có tầm quan sát.

Cuối cùng,để sử dụng khẩu 12,7mm pháo thủ phải leo ra ngoài tháp pháo




các phiên bản:
T-62A:bên cạnh khẩu đồng trục 7,62mm PKT có tầm bắn khoảng 100m, model này có thêm 1 khẩu 12,7mm DShK với tầm bắn khoảng 1500m.Model này cũng có hệ thống tự ổn định nòng súng giúp tăng độ chính xác khi tác xạ trong hành tiến.
T-62K:tank chỉ huy với hệ thống định vị và quan sát cao cấp.
T-62M có thêm giáp, FSC và khả năng băn ATGM
T-62D có hệ thống chống ATGM Drozd APS và giáp ERA

XE TĂNG CHIẾN ĐẤU CHỦ LỰC T-72

T-72 với giáp ERA

THÔNG SỐ KỸ THUẬT

Loại: Xe tăng chiến đấu chủ lực

Nước SX: Liên Xô

Nặng: 41 tấn với T72

41,5 tấn với T-72M

49,1 tấn với T-72B

Dài:6,9m

Rộng:3,6m

Cao: 2,2m

Tổ lái: 3 người

Giáp Composite

Vũ khí: Súng chính 125mm loại 2A46M nòng trơn

T-72B có thể bắn tên lưả chống tăng AT-11 Svir qua nòng pháo

1 đại liên 12,7mm trên tháp pháo loại NSV hay DKSh

1 đại liên đồng trục7,62mm

Động cơ :V-46-6 12-cylinder diesel với T-72 "Ural"

V-84 12-cyl. diesel làm mát bằng ko khí với T-72B and T-72S

Công suất 780 mã lực với T-72 và 840mã lực với T-72B

Sức kéo: 19,1 mã lực/tấn với T-72 và 20,5 mã lực/tấn với T-72B

Tầm hoạt động: 450km tới 460km, 600km tới 900km với bình dầu phụ tuỳ theo phiên bản

Tốc độ: 60km/h trên đường nhưạ và 45km/h trên đường gồ ghề

Xe tăng chiến đấu chủ lực T72 được đưa vào sản xuất năm 1971 và ra mắt vào năm 1977. T72 ko phải là mẫu cải tiến cuả xe tăng T64 mà nó là 1 mẫu tăng hoàn toàn mới thưà hưởng những tính năng tốt cuả T64 và bổ sung thêm những tính năng mới vượt trội.

T72 vẫn kế tục kiểu dáng thấp bé cuả các dòng tăng T55,T62 với cách bố trí bố cục quy ước.Nếu T64 chỉ được sử dụng trong quân đội Liên Xô thì T72 còn được sử dụng phổ biến trong quân đội các nước ngoài Khối Hiệp ước Warsaw, ngoài ra T-72 còn được các nước khác chế tạo những phiên bản cho riêng mình như CỘng Hoà Séc, Ba Lan,Ấn Độ... T-72 trở thành xe tăng chủ lực trong quân đội Liên XÔ những năm 1970 và là niềm tự hào cuả Bộ đội tăng thiết giáp Xô Viết . T-72 tham gia rất nhiều cuộc chiến tranh ở châu Âu và trên thế giới như: CHiến tranh Chechen 1 và 2, CHiến tranh Kosovo, chiến tranh Vùng Vịnh. Trong chiến tranh vùng Vịnh , T72 đã tỏ ra bất lực trước xe tăng M1A2 cuả Quân đội Mỹ, rất nhiều xe tăng T72 cuả quân đội Iraq bị bắn cháy bởi xe tăng M1A2 và trực thăng Apache, điều này nói lên rằng T-72 đã lạc hậu so với thế hệ xe tăng mới như M1A2 Abram, Challenger,Leopard , T80U..Tuy nhiên T-72 vẫn còn được nhiều nước sử dụng rộng rãi trong các đơn vị tăng chủ lực. Năm 2005, Việt Nam nhập khoảng 150 xe tăng T-72M cuả Ba Lan để sung vào lực lượng tăng thiết giáp chủ lực.


Nhìn chung về bề ngoài, T-72 giống với T-64.T-72 có 6 bánh xích chạy bọc viền cao su và 3 bánh lăn hồi chuyển.Hệ thống nhìn đêm cuả xạ thủ gắn bên phải súng chính.Trên tháp pháo được trang bị 1 khẩu 12,7mm NSV có bệ xoay nhưng ko có hệ thống bắn tự động trong xe, ngoài ra còn 1 khẩu đại liên đồng trục 7,62mm .Ống thông hơi gắn bên trái tháp pháo. T-72 có khoang động cơ rộng hơn T-64 và bộ tản nhiệt nằm gần đuôi xe.

 


TÍNH NĂNG KỸ THUẬT

 

T-72 có tính cơ động cao hơn so với T-62, với động cơ V-12 Diesel có công suất lên đến 780 mã lực. Động cơ cuả T-72 được thiết kế rất tốt trong việc thải khói và chạy rất êm, giảm rất nhiều độ dằn xóc gây mệt mỏi cho tổ lái như ở mẫu T-62.Mặc dù có khoang động cơ lớn hơnT-64, nhưng do trọng lượng nặng hơn(41 tấn) nên T-72 được cho rằng có tốc độ gần như bằng T-64 .Mẫu T-72B1 còn được tăng cường động cơ V-12 pistone làm mát bằng không khí công suất tới 840 mã lực có thể chạy bằng 3 loại nhiên liệu:Diesel,Benzen,Kerosene.2 bình nhiên liệu phụ 200 lít có thể gắn sau đuôi xe.T-72 có thể gắn ống thở dùng cho việc lội nước qua nơi sâu, việc chuẩn bị lội nước mất khoảng 20 phút.

 

 




T-72 có hệ thống giáp bảo vệ tốt hơn T-62 nhờ sử dụng giáp nhiều lớp và thưà hưởng những đặc tính tốt từ T-64.Giáp tấm Composite trên mẫu T-72M và T-72M1 có thể chống đỡ được đạn 105mm trên M1 Abram từ khoảng cách trên 2000m.Phiên bản T-72M và T-72M1 còn được trang bị thêm thiết bị xác định tầm bắn bằng laser làm giảm thiệt hại khi trúng đạn ở khoảng cách 2000m và trở xuống .Tháp pháo được bọc giáp quy ước có độ dày 280mm, còn giáp trước có đọ dày lên đến 200mm. Bên cạnh hệ thống phát hiện phóng xạ PAZ, T-72 còn được trang bị hệ thống chống phóng xạ(trừ các phiên bản xuất khẩu), hệ thống bảo vệ NBC( bảo vệ trước vũ khí hạt nhân, sinh học, hoá học)
T-72 có thiết bị sinh khói giống như các mẫu T55,T62 , các ống phóng lưụ đạn khói được lắp ở 2 bên hông tháp pháo.
T-72 được trang bị vũ khí, đạn và hệ thống điều khiển hoả lực tương tự như T-64.T-72 được trang bị súng chính nòng trơn 125mm với hệ thống nạp đạn tự động gắn ở sau tháp pháo làm giảm số lượng tổ lái còn 3 người.Súng chính 125mm cuả nó có khả năng bắn thủng giáp cuả M1 Abram từ khoảng cách 1000 m.Đạn phá giáp BK-27 HEAT gần đây có thêm mũi 3 cạnh tăng khả năng xuyên giáp quy ước và giáp ERA.Đạn BK-29 với đầu đạn cứng dùng để đôí phó với giáp cảm ứng, đạn MP thì có thể vỡ mảnh dùng để sát thương bộ binh.Nếu đạn BK-29 HEAT-MP được sử dụng thì nó có thể thay thế hoặc bổ sung cho loại đạn Frag-HE (hiện đang được NATO dùng).
Thiết bị nhìn đêm cuả T-72 gắn bên phải súng chính thay vì bên trái như T-64. Thiết bị ngắm 1K13-49 có thể dùng cho 2 chức năng : nhìn đêm và làm thiết bị dẫn bắn tên lưả chống tăng qua nòng.T-72 còn có thể lắp đặt hệ thống định vị mục tiêu bằng nhiệt, bao gồm Agava-2 cuả Nga , SAGEM-produced ALIS cuả Pháp , thiết bị naỳ có thể dùng để dẫn bắn tên lưả chống tăng vào ban đêm.

T-72 được đánh giá là mẫu xe tăng ưu việt nhất vào thời đó,vượt trội hơn hẳn so với các loại xe tăng cuả phương Tây cùng thời như M60A3 Patton cua Mỹ, Leopard 1 cuả Tây Đức hay Chieftain cuả Anh.

 nguồn : vndefence.info