| Quân đội nhân dân việt nam sủ dụng các loại tank, thiết giáp nào ?? |
|
|
|
| Viết bởi Administrator |
| Chủ nhật, 08 Tháng 11 2009 11:17 |
|
...thích hợp với kiểu chiến tranh quy ước và đặc biệt là gây khó khăn cho việc tác chiến bằng tăng thiết giáp . Qua kinh nghiệm của 2 cuộc chiến tranh giữ nước cho thấy địa hình của Việt Nam với kiểu núi rừng đan xen đồng bằng ko thích hợp cho việc tác chiến xe tăng với số lượng lớn , đặc biệt là ko thích hợp cho các loại tăng lớn, nặng nề. Tiêu biểu là trong các chiến dịch Tìm diệt của quân đội Mỹ vào chiến khu Dương Minh Châu năm 1967, cuộc hành quân Juinction City, quân đội Mỹ đã huy động 1 lượng lớn tăng thiết giáp , trong đó chủ yếu là tăng M41 và tăng M48, kèm theo 1 số lượng lớn xe bọc thép M113 để tấn công nhằm tiêu diệt căn cứ quân chủ lực MTDTGP Miền Nam . Cuộc hành quân đã thất bại và quân đội Mỹ đã bị thiệt hại nặng về tăng thiết giáp (hơn 48 xe tăng và xe bọc thép bị bắn cháy chỉ bằng các loại vũ khí chống tăng cá nhân như B40, mìn chống tăng..).Chiến thuật đánh xe tăng ồ ạt kiểu thời thế chiến thứ 2 bị hoàn toàn phá sản ở miền rừng núi Tây Ninh. Quân đội Nhân Dân Việt Nam đã biết dựa vào nguyên tắc: Chọn vũ khí phù hợp với địa hình , phát huy lợi thế chiến đấu của tăng thiết giáp trên 1 địa hình hoàn tòan ko phù hợp cho xe tăng để giáng trả những cú đấm thép vào quân thù. Phải nói rằng người bạn Liên Xô có công rất lớn trong việc cung cấp đúng loại vũ khí phù hợp với địa hình phức tạp của Việt Nam, các loại tăng thiết giáp mà QDNDVN được cung cấp đều có tính cơ động cao, trọng lượng nhẹ (nặng nhất chỉ có T54 là 36 tấn) chiến đấu rất hiệu quả trên địa hình rừng núi. Binh chủng tăng thiết giáp đã đóng 1 vai trò vô cùng to lớn trong các chiến thắng của Quân đội NDVN trong cuộc kháng chiến chống Mỹ: lần đầu tiên tăng thiết giáp được sử dụng trong trận Làng Vây ở Khe Sanh, tiếp đó tăng thiết giáp đã làm nên 1 loạt các chiến công vang dội ở Đường 9 Nam Lào, Đắc Tô-Tân Cảnh, Quảng Trị và góp phần hết sức to lớn cho thắng lợi của Chiến dịch Hồ CHí Minh lịch sử, hình ảnh chiếc xe tăng T54 húc đổ cổng dinh Độc Lập ngày 30/4/1975 luôn là hình ảnh đáng tự hào của các chiến sĩ Tăng Thiết giáp QDNDVN.
Thông số kỹ thuật Loại: Xe tăng lội nước hạng nhẹ Nước Sản xuất:Liên Xô Nặng: 14 tấn với PT-76 15,4 tấn với PT-76B Chiều dài(ko tính súng chính): 6,91m Cao: 2,26 m Rộng: 3,15m Tổ lái: 3 người Giáp trước : dày nhất 14mm Giáp tháp pháo:dày nhất 20mm, mỏng nhất 17mm Vũ khí: SÚng chính 76mm D-56T 40 viên 1 súng máy đồng trục 7,62mm loại SGMT hoặc PKT Động cơ: V-6B Diesel 240 mã lực Tầm hoạt động:260 km trên cạn và 60 km dưới nước Tốc độ: 44 km/h trên cạn và 10,2 km/h dưới nước
PT-76 [PT = Plavayushtshiy Tank - Amphibious Tank) là loại xe tăng lội nước hạng nhẹ được chế tạo và sử dụng bởi quân đội Liên Xô, mẫu PT-76 được phát triển vào khoảng những năm 1949-1951 dưới sự chỉ đạo của Z.Y. Kotin. PT-76 được đưa vào phục vụ từ năm 1954 với khả năng lội nước mà ko cần phải thực hiện các thao tác chuẩn bị như các loại tăng khác( T34,T54) . Mặc dù PT-76 có giáp mỏng và được vũ trang ko đủ tiêu chuẩn như 1 xe tăng hiện đại như khả năng lội nước của nó lại bù đắp giá trị của những hạn chế này. Nó được sử dụng rất rộng rãi trong quân đội các nước thuộc Liên Bang Soviet , các nước thuộc Khối hiệp ước Warsaw và một số quốc gia đồng minh khác của LX.Đã có hơn 7000 xe tăng PT-76 được sản xuất và hơn 2000 chiếc xuất khẩu, có hơn 25 quốc gia sử dụng. PT-76 vũ trang súng chính 76mm với tầm bắn hiệu quả tối đa độ chừng 1500m. Tổ lái gồm 3 người , PT-76 cũng được dùng để vận chuyển bộ binh. PT-76 là loại xe tăng lội nước hạng nhẹ nên thiết kế mũi xe tăng dẹt,phẳng , có hình dáng như mũi tàu .Xích xe có 6 bánh chạy và ko có trục lăn đỡ xích. Tháp pháo hình chóp cụt ,nằm trên vị trí bánh thứ 2,3,4 có 2 cửa dành cho Xa trưởng và Lính nạp đạn, cửa dành cho Lái xe đặt ngay dưới súng chính .
Trong chiến tranh Việt Nam, PT-76 được Quân đội Nhân dân Việt Nam sử dụng lần đầu tiên ở trận Làng Vây, Khe Sanh, dùng để bao vây tiêu diệt căn cứ của Lực lượng Đặc biệt Mỹ (SOG) được đồn trú bởi chủ yếu là người Thượng và 24 lính Mỹ. Trong trận Làng Vây, PT-76 đã làm tốt vai trò tấn công thọc sâu, yểm trợ bộ binh xung phong , làm giảm thiểu thương vong đáng kể cho bộ binh , gây thiệt hại nặng cho phe phòng thủ (trên 200 Lính đặc nhiệm người Thượng bị tiêu diệt, 7 lính Mỹ chết), tuy nhiên phe QđND VN cũng chịu thiệt hại nặng là 5 trong số 12 xe bị phá hủy bởi súng không giật DKZ và súng chống tăng M72 LAW nhưng cuộc tấn công đã giành thắng lợi, tiêu diệt được cứ điểm Làng Vây. Sau đó PT-76 được QĐ ND VN sử dụng rộng rãi suốt cuộc chiến tranh trong các trận đánh hiệp đồng binh chủng, PT-76 chỉ tham gia 1 trận đấu tăng duy nhất tại Bến Hét ngày 3/3 /1969 gần biên giới Lào, trong trận đánh 2 xe tăng PT-76 đã bị bắn cháy bởi 1 xe tăng hạng trung M48A3 của Quân đội Mỹ. Sau này PT-6 được phiên chế vào Qđ NDVN thời nay , trang bị cho các đơn vị thiết giáp , bộ binh cơ giới và Lực lượng Hải quân đánh bộ. XE TĂNG LỘI NƯỚC TYPE 63 THÔNG SỐ KỸ THUẬT
Thông số kỹ thuật Loại: Xe tăng hạng nhẹ Nước SX: Trung Quốc Nặng: 21 tấn Dài: 5.6 m Rộng: 2.9 m Cao: 2.3 m Động cơ: Diesel làm mát bằng nước 430 mã lực Tổ lái: 4 người Giáp trước 25 mm, Tháp pháo 50mm Vũ khí: Súng chính 85mm 1 đại liên 12,7mm 2 đại liên 7,62mm Tầm hoạt động:500km Tốc độ: 60km/h XE TĂNG HẠNG TRUNG T54/55 Xe tăng Type 59 do TQ chế tạo dưạ trên nguyên mẫu T54 Xe tăng T55 Xe tăng hạng trung T-55 chạy bánh xích, chasis năm bánh với một khoảng không gian giữa bánh thứ nhất và bánh thứ hai và không có những trục lăn hồi chuyển. Nó có thân ngắn, tháp pháo hình vòm nằm bên trên bánh xe thứ ba. Súng chính có rãnh xoắn cỡ 100mm và có một lỗ thoát hiểm ở gần chân nòng. Một súng máy đồng trục A7.62mm và một súng máy 7.62mm di chuyển vòng cung. Các mẫu T-55A về sau này không được trang bị súng đó. T-55 được phân biệt với T-54 vì nó không có vòm ở bên phải và quạt thông gió của tháp pháo được lắp phía trước so với quạt thông gió của T-54, và tất cả các mẫu T-55 đều có một bộ phận tìm kiếm ánh sáng hồng ngoại dành cho pháo thủ lắp bên phải súng chính. Tuy nhiên, bộ phận tìm kiếm ánh sáng này không phải là một đặc điểm phân biệt, bởi vì nó cũng được trang bị thêm cho nhiều mẫu T-54 và T-54A.
XE TĂNG HẠNG TRUNG T-62 THÔNG SỐ KỸ THUẬT T-62 là bước kế tiếp của series T-54/55, được đưa vào sản xuất hàng loạt năm 1961 và được duy trì cho tới năm 1975. Nó trở thành loại MBT (main battle tank) tiêu chuẩn của lực lượng Tăng thiết giáp và Bộ binh cơ giới LX, thay thế cho T-54/55. Phiên bản T-62 A lần đầu xuất hiện vào năm 1970. Vào khoảng thập niên 80 nó được thay thế bằng thế hệ tăng T-64/72/80 tiên tiến hơn.
Mô tả sơ bộ: Tăng hạng trung T-62 là xe tăng bánh xích với 5 bánh dẫn động mỗi bên, 3 bánh đầu lắp sát nhau còn bánh thứ 3,thứ 4 và thứ 5 thì cách xa nhau khá rõ. Bách xích dẫn hướng nằm phía cuối còn bánh tĩnh thì nằm phía đầu xe. Xe T-62 không có bánh quay xích. Tháp pháo có hình tròn, được lắp ở khoảng trên bánh xích thứ 3, được đúc láng hơn và tròn hơn tiền bối T-54/55. Tháp chỉ huy nằm phía bên trái và được đúc liền vào thân chứ không táng ri-vê. Nắp cảu pháo thủ nằm bên phải Súng nòng trơn 115-mm(bắn được ATGM) có nòng dài hơn và nhỏ hơn nòng pháo 100mm cuả T-54/55 (115 mà bé hơn 100 àh?) và cái bore evacuator ( một thiết bị có chức năng ngăn hơi thuốc bay ngược lại khoang lái, chảng biết dịch ra tiếng Việt là sao?) nằm ở khoảng 2/3 thân súng tính từ tháp pháo. Thêm vào đó là một khẩu súng máy đồng trục 7,62mm cùng 1 đại liên 12,7mm phòng không thuộc quyền sử dụng của pháo thủ.
Tính năng: Giống như T-55, T-62 được trang bị động cơ diesel V-12 làm mát bằng nước có công suất 580 sức ngựa.Tầm hoạt động trên địa hình xấu là 320 km ,trên đường bằng phẳng là 450km với thùng nhiên liệu bên trong.Nếu đeo thêm 2 thùng nhiên liệu dung tích 200l thì 450km đường xấu và 650km đường bằng phẳng.hệ thống xả khí, phát khói ngụy trang và máy quét phóng xạ loại PAZ dùng cùng loại với T-54/55.Một số T-62 còn có khả năng trang bọ thêm hệ thống chống chiến tranh sinh hóa NBC. Hầu hết các model T-62 đều có kính ngắm hồng ngoại cho xa trưởng, pháo thủ và lái xe.
Sự cải tiến đáng giá nhất của T-62 so với T-54/55 là khầu pháo chính 115mm nòng trơn. Khẩu này có khả năng bắn loại đạn xuyên giáp sử dụng thanh xuyên có cánh định hướng gắn cố định, sơ tốc đầu nòng cao vào khoảng 1,6 km/s. Loại đạn này có đạn đạo rất ổn định nên tầm hiệu quả tối đa vào khao3ng 1,6 km.1 cơ số đạn tiêu chuẩn của T-62 gồm 40 quả đạn, trong đó có 12 đạn HVAPFSDS xuyên giáp, 6 đạn nổ HEAT và 22 đạn nổ HE.T-62 còn có bộ phận hất vỏ đạn ra theo 1 đường rãnh thoát nằm cuối tháp pháo.
Các thành phần gia cố khác bao gồm giáp đáy xe chống mìn, bánh xích bọc cao su và mũi giảm chấn đầu nòng.Thêm vào đó là những thiết bị ngắm thermal cho phép phóng ATGM vào ban đêm. Thiết bị quan trắc K13 vừa là thiết bị nhìn đêm vừa là ống ngắm ban đêm cho ATGM nhưng 2 chức năng này ko dùng song song được.
Hạn chế T-62 cũng có những hạn chế giống T-55 : không gian chật hẹt của tổ lái, giáp mỏng, thiết bị điều khiển pháo thô lậu, góc hạ nòng súng thấp và khu vực chứa nhiên liệu đạn dược đễ bị tổn thương. Hệ thống tự động hất vỏ đạn cũng gây nên sự rò rỉ ngược khí CO2 và gây thương tổn vật lý khi vỏ đạn văng ra khỏi nòng cho thành viên tổ lái, thêm vào đó, lỗ hất vỏ đạn là một khe hở chết người của hệ thống NBC.
Mỗi khi bắn, khẩu pháo phải nằm đúng vị trí khe hất vỏ đạn, đồng thời tháp pháo cũng ko thể quay được khi đang thao tác nạp đạn. Việc quay tháp pháo bằng tay gây khó khăn rất nhiều cho việc tác xạ khi di chuyển và tốc độ bắn liên tiếp.Khi nắp ca-pô của tài xế mở ra, tháp pháo cũng ko thể quay được. Mặc dù xa trưởng có khả năng chiếm quyền của pháo thủ và quay tháp pháo nhưng anh ta ko thể bắn được pháo từ vị trí chỉ huy vì không có tầm quan sát. Cuối cùng,để sử dụng khẩu 12,7mm pháo thủ phải leo ra ngoài tháp pháo XE TĂNG CHIẾN ĐẤU CHỦ LỰC T-72 T-72 với giáp ERA THÔNG SỐ KỸ THUẬT Loại: Xe tăng chiến đấu chủ lực Nước SX: Liên Xô Nặng: 41 tấn với T72 41,5 tấn với T-72M 49,1 tấn với T-72B Dài:6,9m Rộng:3,6m Cao: 2,2m Tổ lái: 3 người Giáp Composite Vũ khí: Súng chính 125mm loại 2A46M nòng trơn T-72B có thể bắn tên lưả chống tăng AT-11 Svir qua nòng pháo 1 đại liên 12,7mm trên tháp pháo loại NSV hay DKSh 1 đại liên đồng trục7,62mm Động cơ :V-46-6 12-cylinder diesel với T-72 "Ural" V-84 12-cyl. diesel làm mát bằng ko khí với T-72B and T-72S Công suất 780 mã lực với T-72 và 840mã lực với T-72B Sức kéo: 19,1 mã lực/tấn với T-72 và 20,5 mã lực/tấn với T-72B Tầm hoạt động: 450km tới 460km, 600km tới 900km với bình dầu phụ tuỳ theo phiên bản Tốc độ: 60km/h trên đường nhưạ và 45km/h trên đường gồ ghề Xe tăng chiến đấu chủ lực T72 được đưa vào sản xuất năm 1971 và ra mắt vào năm 1977. T72 ko phải là mẫu cải tiến cuả xe tăng T64 mà nó là 1 mẫu tăng hoàn toàn mới thưà hưởng những tính năng tốt cuả T64 và bổ sung thêm những tính năng mới vượt trội. T72 vẫn kế tục kiểu dáng thấp bé cuả các dòng tăng T55,T62 với cách bố trí bố cục quy ước.Nếu T64 chỉ được sử dụng trong quân đội Liên Xô thì T72 còn được sử dụng phổ biến trong quân đội các nước ngoài Khối Hiệp ước Warsaw, ngoài ra T-72 còn được các nước khác chế tạo những phiên bản cho riêng mình như CỘng Hoà Séc, Ba Lan,Ấn Độ... T-72 trở thành xe tăng chủ lực trong quân đội Liên XÔ những năm 1970 và là niềm tự hào cuả Bộ đội tăng thiết giáp Xô Viết . T-72 tham gia rất nhiều cuộc chiến tranh ở châu Âu và trên thế giới như: CHiến tranh Chechen 1 và 2, CHiến tranh Kosovo, chiến tranh Vùng Vịnh. Trong chiến tranh vùng Vịnh , T72 đã tỏ ra bất lực trước xe tăng M1A2 cuả Quân đội Mỹ, rất nhiều xe tăng T72 cuả quân đội Iraq bị bắn cháy bởi xe tăng M1A2 và trực thăng Apache, điều này nói lên rằng T-72 đã lạc hậu so với thế hệ xe tăng mới như M1A2 Abram, Challenger,Leopard , T80U..Tuy nhiên T-72 vẫn còn được nhiều nước sử dụng rộng rãi trong các đơn vị tăng chủ lực. Năm 2005, Việt Nam nhập khoảng 150 xe tăng T-72M cuả Ba Lan để sung vào lực lượng tăng thiết giáp chủ lực. Nhìn chung về bề ngoài, T-72 giống với T-64.T-72 có 6 bánh xích chạy bọc viền cao su và 3 bánh lăn hồi chuyển.Hệ thống nhìn đêm cuả xạ thủ gắn bên phải súng chính.Trên tháp pháo được trang bị 1 khẩu 12,7mm NSV có bệ xoay nhưng ko có hệ thống bắn tự động trong xe, ngoài ra còn 1 khẩu đại liên đồng trục 7,62mm .Ống thông hơi gắn bên trái tháp pháo. T-72 có khoang động cơ rộng hơn T-64 và bộ tản nhiệt nằm gần đuôi xe.
TÍNH NĂNG KỸ THUẬT
T-72 có tính cơ động cao hơn so với T-62, với động cơ V-12 Diesel có công suất lên đến 780 mã lực. Động cơ cuả T-72 được thiết kế rất tốt trong việc thải khói và chạy rất êm, giảm rất nhiều độ dằn xóc gây mệt mỏi cho tổ lái như ở mẫu T-62.Mặc dù có khoang động cơ lớn hơnT-64, nhưng do trọng lượng nặng hơn(41 tấn) nên T-72 được cho rằng có tốc độ gần như bằng T-64 .Mẫu T-72B1 còn được tăng cường động cơ V-12 pistone làm mát bằng không khí công suất tới 840 mã lực có thể chạy bằng 3 loại nhiên liệu:Diesel,Benzen,Kerosene.2 bình nhiên liệu phụ 200 lít có thể gắn sau đuôi xe.T-72 có thể gắn ống thở dùng cho việc lội nước qua nơi sâu, việc chuẩn bị lội nước mất khoảng 20 phút.
nguồn : vndefence.info |
Ho Chi Minh City (Saigon) Time
London Time
Washington Time
Tokyo Time








































