|
Việt Nam hiện nay được cho là có khoảng 50 chiến hạm cỡ nhỏ, trang bị lạc hậu và vài trăm tàu xuồng chiến đấu trên sông.
Quân chủng Hải quân, Quân đội Nhân dân Việt Nam còn gọi là Hải quân Nhân dân Việt Nam là một quân chủng thuộc Bộ Quốc phòng Việt Nam có nhiệm vụ tổ chức, chỉ huy, quản lý, xây dựng quân đội bảo vệ vùng biển và thềm lục địa Việt Nam.Cơ quan chỉ huy là Bộ Tư lệnh Hải quân. Hải quân Nhân dân Việt Nam có các binh chủng Hải quân đánh bộ, Tên lửa-Pháo bờ biển, Không quân Hải quân nhưng không tổ chức bộ tư lệnh riêng. Hải quân Nhân dân Việt Nam có các cấp đơn vị: hải đoàn, hải đội tàu, binh đoàn Hải quân đánh bộ, các binh đoàn bộ đội chuyên môn, các đơn vị bảo đảm phục vụ (ra đa, thông tin, kỹ thuật, hậu cần...). Các vùng hải quânNgày 26 tháng 10 năm 1975, Bộ Quốc phòng ra Quyết định số 141/QĐ-QP thành lập 5 vùng duyên hải thuộc Bộ Tư lệnh hải quân và quy đinh phạm vi quản lý của 5 vùng. Đến năm 1978 giải thể vùng 2 và đổi tên vùng duyên hải thành vùng hải quân. - Vùng 1 (hoặc vùng I, vùng A): Vịnh Bắc Bộ. Thời kỳ 1975-78 vùng 1 quản lý vùng biển từ Móng Cái đến Ninh Bình (cửa sông Đáy). Tháng 10 năm 1978 một phần lực lượng của Vùng 2 giải thể được sáp nhập vào Vùng 1. Từ đây Vùng 1 được giao nhiệm vụ quản lý, bảo vệ một vùng biển rộng từ cửa sông Bắc Luân đến mũi Độc (ở gần Đèo Ngang, vùng giáp giới hai tỉnh Hà Tĩnh và Quảng Bình) bao gồm các đảo gần bờ, xa bờ và thềm lục địa thuộc Vịnh Bắc Bộ.
- Vùng 2 (hoặc vùng II, vùng B). Vùng II quản lý vùng biển từ Thanh Hóa đến Thừa Thiên. Đến năm 1978 giải thể, nhập vào vùng 1 và vùng 3. Ngày 28 tháng 8 năm 2009, vùng 2 mới được thành lập, nhiệm vụ chính là quản lý, bảo vệ chủ quyền vùng biển từ Bình Thuận đến Bạc Liêu, trong đó có khu vực trọng điểm là vùng biển có các cụm kinh tế - khoa học - dịch vụ (gọi tắt là DK1) thuộc thềm lục địa phía Nam.
- Vùng 3 (hoặc vùng III, vùng C). Thời kỳ 1975-78 vùng 3 quản lý vùng biển từ Đà Nẵng đến mũi Kê Gà (Bình Thuận), có bờ biển dài khoảng 1.100 km. Sau khi vùng 2 giải thể, vùng 3 quản lý cả đoạn giữa miền Trung, từ mũi Độc trở vào đến Bình Thuận, gồm đảo Cồn Cỏ, Lý Sơn... Trụ sở Bộ Chỉ huy: Đà Nẵng. Vùng III Duyên hải gồm 3 khu duyên hải: Nam Ngãi (khu 31), Bình Phú (khu 32), Khánh, Ninh, Bình (Khu 33), mỗi khu duyên hải tương đương cấp trung đoàn.
- Vùng 4 (hoặc vùng IV, vùng D): Vùng 4 quản lý Quần đảo Trường Sa và vùng biển phía nam miền Trung, từ Hàm Tân đến sông Soài Rạp.
- Vùng 5 (hoặc vùng V, vùng E): Vùng 5 quản lý vùng biển Nam biển Đông và vịnh Thái Lan, từ sông Soài Rạp đến Hà Tiên.
Các cấp hàm Trước năm 1981, quân hàm cấp tướng của quân chủng hải quân chưa có tên gọi riêng, vẫn mô phỏng theo cách gọi của Trung Quốc. Từ năm 1981, quân hàm các cấp tướng trong hải quân mới có tên gọi riêng, theo cách gọi của Liên Xô: Đô đốc (tương đương Thượng tướng), Phó Đô đốc (tương đương Trung tướng), Chuẩn Đô đốc (tương đương Thiếu tướng), được quy định lần đầu tiên trong Luật sĩ quan Quân đội Nhân dân Việt Nam ban hành ngày 31 tháng 12 năm 1981. Về phù hiệu và cấp hiệu quân hàm xem bài Quân đội Nhân dân Việt Nam. Cho đến nay mới có một sĩ quan Hải quân lên tới cấp Đô đốc: cố Tư lệnh Hải quân Giáp Văn Cương (1921-1990). Ông được phong làm Đô đốc năm 1988. Theo Luật sĩ quan Quân đội Nhân dân Việt Nam (1999) thì Phó Đô đốc là bậc quân hàm cao nhất của quân nhân giữ chức vụ Tư lệnh Quân chủng Hải quân. Chỉ huy và Lãnh đạo qua các thời kỳ Tư lệnh - Tạ Xuân Thu (1964), Tư lệnh đầu tiên của Quân chủng Hải quân, Thiếu tướng (1961)
- Nguyễn Bá Phát (1964-1974), Đại tá rồi Thiếu tướng Hải quân (1974)
- Đoàn Bá Khánh, (1974-1975), Đại tá Hải quân
- Nguyễn Bá Phát (1976-1977), Thiếu tướng
- Giáp Văn Cương (1977-1980), Thiếu tướng (1974), Trung tướng (1980)
- Đoàn Bá Khánh, (1981-1983), Chuẩn Đô đốc (1981)
- Giáp Văn Cương (1984-1990), Phó Đô đốc rồi Đô đốc Hải quân (1988) (Đô đốc duy nhất của hải quân nhân dân Việt Nam)
- Hoàng Hữu Thái, (1990-1994), Phó Đô đốc Hải quân
- Mai Xuân Vĩnh, (1994-1999), Phó Đô đốc Hải quân
- Võ Nhân Huân, Quyền Tư lệnh (1999), Chuẩn Đô đốc Hải quân, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa VIII
- Đỗ Xuân Công (2000-2004), Phó Đô đốc Hải quân
- Nguyễn Văn Hiến (từ 2004), Phó Đô đốc Hải quân, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam
Chính ủy - Tạ Xuân Thu (1965-1967), Thiếu tướng (1961).
- Đoàn Phụng (1967-1969), Đại tá Hải quân
- Lương Tuấn Khang (1969-1970), Đại tá Hải quân
- Hoàng Trà (1971-1974), Đại tá rồi Thiếu tướng Hải quân (1974).
- Trần Văn Giang (1974-1975), Đại tá Hải quân
- Hoàng Trà (1975-1979), Thiếu tướng Hải quân
- Trần Văn Giang (1981-1986), Chuẩn Đô đốc (1981)
Phó tư lệnh về chính trị - Lê Văn Xuân (1987-1995), Phó đô đốc
- Võ Nhân Huân (1995- 1999), Chuẩn Đô đốc
- Nguyễn Văn Tình (2000-2008), Phó Đô đốc. Nghỉ hưu ngày 1/1/2008
Chính ủy - Trần Thanh Huyền (Từ 16-1-2008), Phó đô đốc.
Trang bị của Hải quân Nhân dân Việt Nam| Nước SX | Tên | Số lượng | Trọng tải (tấn) | Dài x Ngang x Sâu (m) | Động cơ | Chân vịt | Công suất (mã lực) | Vận tốc (hải lý/giờ) | Tầm hoạt động (dặm ở hải lý) | Thủy thủ đoàn | Vũ khí | Ghi chú | | Tàu ngầm | Nga | Kilo (cải tiến) | 6 | 2300 | 73,8x9,9x6,6 | Diesel điện | 1 | 2x3650 + 6000 | nổi 10, lặn 17 | nổi 6000/7, lặn 400/3 | 52 | 6 ống bắn ngư lôi 553 ly, 18 ngư lôi, 24 mìn, 8 SA-N-8 tên lửa phòng không | Việt Nam ký MoU mua 6 chiếc trong tháng 4 năm 2009 với tổng trị giá 1,5 tỉ USD | Bắc Triều Tiên | Yugo | 2 | 90 | 73,8x9,9x6,6 | MTU (Diesel đơn trục) | 1 | | nổi 10, lặn 4 | | | Ngư lôi 400 ly | Có nguồn tin cho rằng Yugo sẽ không còn được sử dụng từ năm 2010 | | Tàu khu trục nhỏ | Nga | Gepard | 2 | 1560 | 102,14x13,60 x5,30 | CONDOG đơn trục | 2 | 4000 + 14960 | 17 | 20000/10 | 160 | 8 SS-N-25, 1 SA-N-4 (20 tên lửa), 1 khẩu 76,2 ly, 2 cặp 30 ly, 4 ống bắn ngư lôi, 1 RBU 6 000, 2 dàn thả 48 mìn | 2 chiếc đã được đặt mua và đóng ở xưởng Zelenodolsk từ 2006. VN có thể sẽ mua thêm 2 chiếc nữa và có bản quyền đóng 2 chiếc này trong nước | Liên Xô | Petya II | 3 | 1077 | 82,30x9,20 x3,20 | CONDOG song trục | 3 | 4400+22000 | 32 | 5000/10 | 92 | 2 cặp 76,2 ly, 2 ngũ ống phóng ngư lôi 401 ly, 2 RBU-6000 ASW RL, 2 DC racks, mìn | 2 chiếc mang số hiệu là HQ-15, HQ-16, đóng từ năm 1966 | Liên Xô | Petya III | 3 | 1040 | 91.90x9,20 x2,72 | CONDOG song trục | 3 | 4400+22000 | 32 | 1650/20 | 92 | 2 cặp 76,2 ly, 3 ống phóng ngư lôi 533 ly, 4 RBU-1200 ASW RL, 2 DC racks, mìn | 2 chiếc mang số hiệu là HQ-09, HQ-11, đóng từ năm 1978 (HQ-11 không có ngư lôi nhưng có thêm pháo phòng không AA: 2 cặp 37 ly và 2 cặp 23 ly) | | Tàu hộ tống nhỏ | Nga Việt Nam | BPS-500 | 4 | 517 | 62,00x11,20 x2,50 | 2 dầu | 2 jets | 19600 | 35 | 1650/14 | 28 | 8 Kh-35 Uran SSM, 1 khẩu 76,2 ly/59cal DP, 1 khẩu AA 30 ly, 2 khẩu MG 12,7 ly | Lắp ráp tại Việt Nam từ 1999 với kỹ thuật của Nga | Nga | Tarantul I | 4 | 455 | 56,10x10,20 x2,14 | COGAG 2 trục | 2 | 5880+17650 | 35 | 2200/14 | 16 | 4 SS-N-2C Styx SSM, 1 khẩu 76,2 ly/59cal DP, 1 SA-N-8 SAM position, 2 khẩu AA 30 ly | Tháng 12 năm 2007, Hải Quân Pháp đã chụp hình chiếc tàu Eide Transporter trong biển MANCHE đang chở hai chiếc Tarantul V mà Nga bán cho HQNDVN | Nga Việt Nam | Tarantul V | 4 | 455 | 56,10x10,20 x2,14 | COGAG 2 trục | 2 | 5880+17650 | 35 | 2200/14 | 16 | 16 (KH-25) Uran SSM] | 8 chiếc sắp được chuyển giao | | Tàu tuần tra | Liên Xô | Osa II | 8 | 226 | 38,60x7,60 x2,00 | 3 dầu | 3 | 15000 | 36 | 800/25 | 35 | 4 SS-N-2B Styx SSM, 2 dual 30 ly | HQ-384, HQ-385 ..., đóng từ năm 1975. 4 trong 8 chiếc còn hoạt động | Liên Xô | Turya | 5 | 250 | 39,60x7,60 x2,00 | 3 dầu | 3 | 15000 | 42 | 650/20 | 26 | 1 cặp 57 ly/70cal AA, 1 cặp 25 ly, 4 ống phóng ngư lôi 533 ly | HQ-331, HQ-335, ... đóng từ năm 1984 (HQ-334,335 không có ngư lôi) | Nga | Turya PTF | | 250 | 39,60x7,60 x2,00 | 3 dầu | 3 | 15000 | 42 | 650/20 | 26 | 1 cặp AK-725 DP 57 ly, 1 cặp 2M-3M AA 25 ly, 4 ống phóng ngư lôi TT cải tiến 533 ly (2 ống phóng ngư lôi Kiểu 53-65 và 2 ống phóng ngư lôi Kiểu 53-56B/K) | | Liên Xô | Shershen PTF | 3 | 250 | 36,00x7,50 x1,50 | 3 dầu | 3 | 12000 | 42 | 450/35 | 22 | 1 cặp AK-725 DP 57 ly, 1 cặp 2M-3M AA 25 ly, 4 ống phóng ngư lôi TT cải tiến 533 ly (2 ống phóng ngư lôi Kiểu 53-65 và 2 ống phóng ngư lôi Kiểu 53-56B/K) | Được đóng từ năm 1965. Một số Shershen đã được trang bị 4 Fasta-M SR-SAM | Nga | Svetlyak | 2 | 375 | 49,50x9,20 x2,20 | 3 dầu | 3 | 16200 | 13 (kinh tế) 30 (tối đa) | 2200/13 | 28 | 1 khẩu AK-176M 76,2 ly, 4x4 (16) Ingal-M SR-SAM, 1 cặp AK-630 AA 30 ly, 1 súng phóng lựu AGS-17 | 2 chiếc nữa sẽ được chuyển giao | Hoa Kỳ | HQ-01 | 1 | 2800 | 94,70x12,50 x4,10 | Diesel 2 trục | 2 | 6080 | 17 (tối đa) | 20000/12 | 160 | 3 khẩu 37 ly, 2 cặp 25 ly, 2 SA-N-5 SAM , 2 khẩu 81 ly. Tất cả số tên lửa được cho là đã bị gỡ bỏ vào năm 1990. | Trước đây là chiếc USCGC Absecon (WAVP-374) của Hoa Kỳ (1949-1972), sau chuyển giao cho Việt Nam Cộng hòa dưới cái tên RVSN Phạm Ngũ Lão (HQ-15), sau ngày 30-4-1975 Hải quân Nhân dân Việt Nam trưng dụng dưới cái tên PRVSN Phạm Ngũ Lão (HQ-01). Được tin là vẫn còn hoạt động cho đến năm 2000 mặc dù thông tin về HQ-01 vẫn còn nhiều điều bí ẩn. Tình trạng hiện nay của HQ-01 không rõ, nhưng được cho là không hoạt động và có nhiều khả năng đã nghỉ hưu. | | Tàu tuần tra ngoài khơi xa | Việt Nam 8 (+24) tàu lớp HQ-56 (Stolkraft; 22,4 mét) PB với 1 khẩu 20 ly Việt Nam 4 tàu lớp HQ-37 (chế tạo bởi công ty đóng tàu VINASHIN của Việt Nam) Liên Xô 14 tàu tuần tra lớp Zhuk (kế hoạch 1400M) | | Tàu tuần tra trên sông | Hoa Kỳ | PBR Mark II | 22 | 375 | 9,80x3,50 x0,61 | Diesel 3 vòi phun nước Jacuzzi Brothers | | 220 | 28.5 | | 4 | 1 cặp súng máy M2HB .50 caliber (12,7 ly) ở phía trước, 1 khẩu ở phía sau, súng máy M60 ở hai bên, 1 súng phóng lựu Mk 19 | Tất cả đều không còn được sử dụng | Hoa Kỳ | PCF | 6 | | 15x4x1,5 | twin Detroit Diesel | | 480 | 20-25 | 320/21 tới 750/10 | 5 | 1 cặp súng máy M2 Browning .50 caliber (12,7 ly) ở tháp pháo, tổ hợp súng máy .50 caliber và cối 81 ly ở phía sau | Tất cả đều không còn được sử dụng | | Tàu quét mìn | Liên Xô | Yurka | 2 | 560 | 52,10x9,60 x2,65 | 2 dầu | 2 | 5000 | 16 | 1500/12 | 46 | 2 cặp 30 ly, 10 trái mìn | HQ-851, HQ-855, đóng từ năm 1979 | Liên Xô | Sonya | 4 | 430 | 48,80x10,20 x2,65 | Diesel 2 trục | 2 | 2000 | 14 | 3000/10 | 32 | 1 cặp 30 ly, 1 cặp 25 ly, 5 trái mìn | HQ-464, HQ-465, HQ-466, HQ-467, đóng từ năm 1987 đến 1990 | Liên Xô | Yevgenya | 2 | 88.5 | 26,13x5,90 x1,30 | Diesel 2 trục | 2 | 850 | 12 | 300/10 | 10 | 2 khẩu súng máy 14,5 ly, thiết bị quét MT34, SEMT-1, AT-2, Neva, GKT-3 | | Liên Xô | SO-1 | 4 | 213 | 41,90x6,10 x1,80 | 3 dầu | 3 | 6000 | 27 | 1100/15 | 33 | Đóng từ năm 1960 | 2 cặp 25 ly, 4 RBU-1200 ASW RL, 2 DC racks, 18 trái mìn | | Tàu đổ bộ lưỡng dụng | Hoa Kỳ 3 tàu đổ bộ lưỡng dụng lớp LST LST-1/542 Ba Lan 3 tàu lớp LSM Polnocny-B (kế hoạch 771) Hoa Kỳ vài tàu lớp LCU-1466 Liên Xô 10-12 tàu lớp TCM T-4 (kế hoạch 1785) | | Tàu vận tải | Việt Nam 1 tàu hậu cần lớp AK (HQ-966)- 2 tàu hậu cần lớp AK BD-621
| | Tàu hỗ trợ | Liên Xô 1 tàu kéo hậu cần (Kế hoạch 745) ATA Liên Xô 1 tàu Voda (MTV-6/Kế hoạch 561) AWT Liên Xô 2 tàu lặn tiếp liệu Nyrat-2 (Kế hoạch 376U) (YDT)- 2 floating drydocks (YFDL)
Liên Xô 2 PO-2 (Kế hoạch 376) YFL Hoa Kỳ 2 tàu chở dầu ex-US 53-meter (YO) Hoa Kỳ hơn 2 tàu kéo Chaolocco (YTM)- Khoảng 9 harbor tub (YTL)
| Tên lửa nguồn: vi.wikipedia |